




| Phòng SHTN | |
| Phòng NL & KTTSNĐ | |
| Trung Tâm Quan Trắc | |
| TT Quốc Gia Giống Hải Sản | |
| Trung tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ | |
| Trung Tâm Công Nghệ Sau Thu Hoạch | |
| Phân viện Minh Hải | |






Cho đến thời điểm hiện tại, Việt Nam là một trong 18 quốc gia đối tác, và là quốc gia duy nhất ở khu vực Châu Á có trong chương trình hợp tác phát triển của Vương quốc Bỉ. Các chương trình đã và đang được thực hiện trên cơ sở hợp tác song phương, đa phương, hoặc thông qua các kênh gián tiếp như: các tổ chức phi chính phủ, hợp tác giữa các trường Đại học và với các Viện nghiên cứu của hai nước thông qua sự đóng góp của các thể chế liên bang… Các chương trình hợp tác giữa Bỉ và Việt trên nhiều lĩnh vực đã gặt hái được nhiều thành công, tốt đẹp. Tuy nhiên, sự hợp tác được đánh giá là thành công và nổi trội nhất trong quan hệ giữa hai nước lại thuộc về lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản. Các kết quả của sự hợp tác đã được công bố trong buổi họp báo do Đại sứ Quán Bỉ tại Việt Nam chủ trì tổ chức tại Khách sạn Sheraton, Tp. HCM vào chiều 29/09/2009. Hợp tác Bỉ - Việt Nam về nuôi trồng thủy sản đã được bắt đầu từ hơn 25 năm về trước từ dự án hợp tác nghiên cứu Artemia giữa Đại học Ghent và Đại học Cần Thơ. Kể từ đó, dự án nuôi Artemia trong ruộng muối đã là tiền đề, niềm hứng khởi và sự khích lệ cho rất nhiều sáng kiến hợp tác trên nhiều lãnh vực và đã quy tụ được nhiều thành phần tham gia. Các kết quả đạt được trong hợp tác nghiên cứu nuôi trồng thủy sản cũng được đánh giá như là tấm gương điển hình và là kiểu mẫu cho mọi sự hợp tác và là nền tảng cho việc đề xuất các hướng hợp tác nghiên cứu lâu dài, toàn diện giữa hai nước. Mới đây, Cơ quan Quản trị Hợp tác Phát triển Bỉ (DGDC) đã nhìn nhận các kết quả đạt được trong các dự án hợp tác phát triển nuôi trồng thuỷ sản giữa Bỉ và Việt Nam như là những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng các chính sách hợp tác phát triển của Bỉ trong tương lai, không chỉ với Việt Nam mà cho cả các quốc gia khác. Những bài học rút ra được đã được sử dụng như là nền tảng cho việc củng cố, phát triển các thành tựu, các mối quan hệ có sẵn, đồng thời là căn cứ, cơ sở cho việc xây dựng, mở rộng và phát triển cho mọi lãnh vực hợp tác khác trong tương lai. Với sự giúp đỡ và hỗ trợ của Trường Đại học Mục tiêu của cuộc họp là nhằm trao đổi nhu cầu phát triển bền vững nghề nuôi tôm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tiến trình thực hiện cho việc quảng bá, phát triển thương hiệu, mở rộng, phát triển thị trường, đồng thời, thu thập các ý tưởng cho việc xây dựng các chiến lược hợp tác thích hợp để hỗ trợ cho các tiến trình đã được đề xuất. Phát biểu tại cuộc họp, Ngài Phó Đại sứ đã đánh giá rất cao mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Chính mối quan hệ này đã là môi trường nuôi dưỡng cho mọi hoạt động hợp tác phát triển. Tuy nhiên, trên cơ sở các thành tựu đã đạt được, mọi hoạt động hợp tác trong tương lai cần phải được xây dựng bằng cách tiếp cận mới, ý tưởng mới phù hợp với xu thế phát triển của thế giới cũng như nhu cầu phát triển của mỗi nước. Với cương vị và trọng trách của mình, Ngài Phó Đại sứ cho biết, Ngài đến tham dự cuộc họp ngoài việc lắng nghe, ghi nhận, Ngài sẽ nỗ lực thực hiện các hoạt động hỗ trợ, nhằm thúc đẩy việc hiện thực hóa các ý tưởng đã được đề xuất. Các ý kiến trao đổi đề cập: Để phát triển nghề nuôi tôm bền vững, cần phải xây dựng các chương trình nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm và thực hành nghiêm ngặt một số quy trình kiểm tra chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, cũng còn có những ý kiến quan ngại rằng: (1) Người nuôi còn e dè chưa muốn đầu tư cho việc thực hành kiểm tra chất lượng. Vì lý do, không có gì đảm bảo cho người nuôi là giá bán sản phẩm của họ sẽ được cải thiện hơn so với khi họ chưa đầu tư . (2) Hiện tại, Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh của tỉnh Sóc Trăng là đại diên cho người nuôi tôm vùng ĐBSCL. Nhưng cho tới nay, mới chỉ có 200 hộ nuôi tham gia Hiệp hội, chiếm 10% tổng số hộ nuôi tôm của toàn vùng. Phần lớn số hộ nuôi trong Hiệp hội thực hiện phương pháp nuôi thâm canh, trong khi, hơn 70% diện tích nuôi tôm vùng ĐBSCL thực hiện phương pháp nuôi quảng canh. Do vậy, Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh chưa thể đảm đương một cách đầy đủ như là tiếng nói đại diên cho người nuôi tôm toàn vùng. Ông Nguyễn Văn Nhiệm, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi tôm Mỹ Thanh đã khẳng định, nhờ có sự hỗ trợ, giúp đỡ của chương trình hợp tác Việt – Bỉ, các hội viên của Hiệp hội đã ứng dụng quy phạm BMPs và các phương pháp nuôi mới. Kết quả, lợi nhuận thu được từ con tôm cao hơn trước. Đây cũng là kết quả của sự hợp tác cộng đồng. Ông hy vọng rằng người nuôi tôm trong Hiệp hội, cũng như người nuôi của vùng ĐBSCL sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ các chương trình hợp tác từ phía Chính phủ Bỉ. Đặc biệt là, làm sao và làm thế nào để có thể: (1) Xây dựng được mô hình hợp tác xã kiểu mới, (2) Giải quyết tốt các vấn đề về bệnh tôm, (3) Nâng cao giá trị tôm nuôi của Việt Nam thông qua việc xây dựng thương hiệu, (3) Tăng cường quảng bá, mở rộng thị phần cho các sản phẩm chế biến tôm Việt Nam vào thị trường Bỉ, cũng như thị trường Châu Âu. TS. Nguyễn Văn Hảo, Viện trưởng Viện NCNTTS2, nhấn mạnh: Hiện tại, vùng ĐBSCL có hơn 5 triệu người tham gia nuôi tôm trên diện tích hơn 500.000 ha. Sản lượng tôm đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản hiện đã đạt trên 350.000 tấn/năm. Tuy nhiên, người nuôi tôm trong vùng chưa thực sự hợp tác với nhau. Hơn nữa, chúng ta chưa có và chưa xây dựng được một kiểu mẫu nào cho sự hợp tác trong nghề nuôi tôm. Ngay cả việc tìm kiếm một mô hình hợp tác mẫu của thế giới để học tập cũng không dễ. Các kết quả khảo sát thực tế cho thấy, người nuôi thực sự mong muốn được hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm trong mua bán, sản xuất giống, sản xuất thức ăn, quản lý, kiểm soát giá cả, kiểm soát bệnh thuỷ sản, xây dựng thương hiệu, phát triển mở rộng thị trường… Tuy nhiên, họ lại không có kiến thức, không có kinh nghiệm, cũng như không có kỹ năng tổ chức, quản lý, phối hợp thực hiện. Vậy thì làm sao để có thể quy tụ người nuôi lại thành một tổ chức? Trong khi nỗ lực tìm kiếm các mô hình hợp tác của nước ngoài, trước mắt, từ các kết quả và kinh nghiệm rút ra được của Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh, chúng ta phải củng cố và mở rộng các hoạt động của Hiệp hội, thúc đẩy, hỗ trợ và tăng cường sự hợp tác của người nuôi tôm trong vùng. Cho đến nay, người nuôi tôm của Việt Nam chưa thực sự hoàn toàn hiều biết về các tiêu chuẩn, nội dung, cũng như các quy định về vệ sinh, an toàn thực phẩm của thị trường nước ngoài. Do vậy, cần phải có chương trình hợp tác nhằm hỗ trợ, giúp người dân hiều biết tốt hơn về các yêu cầu của thị trường ngoài nước và tại sao người nuôi cần phải có các Chứng chỉ Quốc tế cho các sản phẩm của mình. Và, chỉ với việc tăng cường nhận thức, hiều biết của người dân về thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng đủ để giúp cho tiến trình phát triển bền vững nghề nuôi tôm tại vùng ĐBSCL rút ngắn lại. Về vấn đề phát triển thương hiệu, TS. Hảo bổ sung, chúng ta hoàn toàn không có kinh nghiệm trong lãnh vực này. Do vậy, chúng ta cần phải có sự giúp đỡ, hỗ trợ của phía Bỉ, nhằm có được các kiến thức và hiều biết về các nội dung, yêu cầu và các thủ tục cần thiết trong tiến trình đăng ký, xây dựng thương hiệu. Người nuôi cũng cần nhận thức được rằng, muốn xây dựng thương hiệu họ cần phải đạt được các Chứng chỉ Quốc tế cho việc thực hành nghề nuôi tốt hơn như: BMB, Global GAP, GAA… TS. Flavio Corsin (WWF) chia sẻ, chúng ta có thể học tập kinh nghiệm rút ra được từ dự án “Dây chuyền cung cấp cá Tra, cá Basa bền vững”. Dự án này cũng đã tổ chức một hội thảo trong đó có sự đối thoại cởi mở, thẳng thắn giữa các bên tham gia. Đặc biệt, trong dự án đã xây dựng một Mô hình Hợp tác Công – Tư (PPP). Mục tiêu của Mô hình Hợp tác Công – Tư là nhằm cải thiện sự phát triển bền vững về mặt xã hội và môi trường của toàn bộ chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế được chấp nhận. TS. Flavio Corsin hy vọng rằng các tiêu chuẩn chất lượng áp dụng cho tôm nuôi sẽ hoàn tất trong năm 2010. Các thành viên tham dự cuộc họp cũng thấy rằng, để xây dựng một chiến lược phát triển cho nghề nuôi tôm bền vững ở vùng ĐBSCL thì cần phải thực hiện: (1) Một khảo sát toàn diện cho nghề nuôi. (2) Xây dựng mô hình chuỗi giá trị cho nghề nuôi. Mục tiêu của chương trình khảo sát nhằm: Có một hiều biết tốt hơn về nghề nuôi, xác định vai trò và vị trí của nghề nuôi hiện nay trong nền kinh tế nói chung, cũng như trong ngành thuỷ sản, đồng thời và quan trọng hơn, đánh giá được hiện trạng nghề nuôi và nhu cầu phát triển. Đây cũng là căn cứ, cơ sở khoa học cho phía Bí xác định nguồn kinh phí hợp tác tham gia và cung cấp chuyên gia. Công tác điều tra cơ bản bao gồm việc rà soát, cập nhật các thông tin mô tả về: Diện tích, năng suất, sản lượng, phương thức nuôi, giá cả, thị trường tiêu thụ… Đặc biệt, kết quả điều tra phải khắc hoạ được các nhu cầu, các cơ hội để các chuyên gia Bỉ có thể tham gia, đóng góp cho sự phát triển của nghề nuôi trong tương lai. Kết quả điều tra cũng sẽ là cơ sở cho công tác xây dựng mô hình. Việc xây dựng mô hình chuỗi giá trị xuất phát từ ý tưởng phân khúc các tiến trình hoạt động, kể từ khi thả giống nuôi tôm, cho đến khi có sản phẩm cuối cùng đưa ra thị trường. Mỗi bên tham gia, vì vậy, có thể tự xác định giai đoạn mà mình có thể tham gia và tác động vào trong tiến trình để đạt được kết quả mong muốn. Để đảm bảo cho mô hình chuỗi giá trị chạy thông suốt và cho ra kết quả phù hợp với thực tế, mô hình cần phải được xây dựng trên nền tảng kiến thức chuyên gia của nhiều lãnh vực. Số liệu đầu vào của mô hình, vì vậy, sẽ bao gồm nhiều yếu tố được phân loại, chọn lọc dựa trên các kết quả điều tra, nghiên cứu của các chuyên gia đến từ các Trường Đại học và các Viện Nghiên cứu của Bỉ và của Việt Nam. Mô hình sẽ giúp cho người nuôi định hướng,xây dựng kế hoạch sản xuất, bao gồm cả việc lựa chọn chương trình giám sát, định giá sản phẩm thích hợp. Nhờ vậy, mô hình sẽ giúp ổn định lợi nhuận của người nuôi tham quan việc hợp lý hóa khâu xác định giá mua, giá bán với các doanh nghiệp chế biến, cũng như với các bên tham gia khác và làm cân bằng mối tương quan cung - cầu trong thị trường tiêu thụ sản phẩm. Kết thúc cuộc họp, các thành viên tham dự cuộc họp đã đi đến thống nhất: (1) Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2 kết hợp với Ttrường Đại học Bài: Nguyễn Mạnh Hùng
|










Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2
Địa chỉ: 116 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, Tp.HCM
ĐT: (84-8) 38299592
(84-8) 38230676
Fax: (84-8) 38226807
Email: ria2@mard.gov.vn
phim sex | phim cap 3 | phim 18+ | clip sex | phim tinh cam | phim kinh di | phim hai | phim hanh dong | phim hoat hinh | phim ma | phim sex việt nam | phim hay | v1vn | phim47 | phim | phim sex | phim cap 3 | | clip sex | phim 18+ | phim kinh di | phim tinh cam | phim hanh dong | phim vien tuong | phim bo han quoc| phim hai xxx



