Kết quả nghiên cứu
Hình thành và đánh giá vật liệu ban đầu cho chương trình chọn giống tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii tại đồng bằng sông Cửu Long
(Cập nhật: 06 - 08 - 2009)
Tôm càng xanh là đối tượng nuôi kinh tế được ưa thích trong mặt nước nội địa do có nhiều ưu điểm như có thể nuôi trong nhiều mô hình nuôi khác nhau: nuôi ghép cùng với cá, nuôi trên ruộng lúa, nuôi chuyên tôm càng xanh, … thị trường tiêu thụ tôm càng xanh cũng khá tốt, giá bán hấp dẫn và có nhu cầu quanh năm. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm càng xanh ở Việt Nam chưa phát triển đúng với tiềm năng do các nguyên nhân liên quan đến con giống, quy trình nuôi, thức ăn,…vv… Tôm càng xanh giống sản xuất trong nước hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu, trên 70% con giống nuôi là con giống nhập khẩu từ Trung Quốc với giá bán thấp nhưng chất lượng không được kiểm soát. Về chất lượng, tôm càng xanh giống bắt đầu có những dấu hiệu suy thoái như dễ bị nhiễm bệnh, tăng trưởng chậm, sự phân đàn lớn, tỷ lệ tôm cái cao hơn tôm đực, tỷ lệ phần cơ ít đi. Vì vậy cung cấp đủ con giống về số lượng, tốt về chất lượng thông qua chọn giống cho nghề nuôi tôm càng xanh là một yêu cầu từ sản xuất. Bước đi đầu tiên và hết sức quan trọng trước khi tiến hành chương trình chọn giống là tập hợp và đánh giá vật liệu ban đầu cũng như giải quyết những khó khăn kỹ thuật, sinh học liên quan đến đối tượng chọn giống. Đây cũng là mục tiêu của nghiên cứu này: hình thành và đánh giá nguồn vật liệu ban đầu cho chọn giống. 
Để đảm bảo vật liệu có tính đa dạng sinh học cao thì nguồn vật liệu bao gồm nhóm nhập ngoại (từ Malaysia) và nhóm tôm trong nước có nguồn gốc từ sông Đồng Nai và sông Mêkong. Nguồn vật liệu ban đầu có tính đa dạng cao này sẽ là cơ sở cho chương trình chọn giống tiến hành dài hạn.
Để đánh giá các dòng tôm về tính trạng tăng trưởng, tiến hành ghép cặp, sinh sản hàng lọat 108 gia đình áp dụng phương pháp lai tổ hợp hòan tòan theo sơ đồ sau.
Bảng 1: Lai tổ hợp hoàn toàn nhằm so sánh tăng trưởng giữa các dòng tôm khác nhau.
Ghi chú: MK: dòng MêKông; ĐN: dòng Đồng Nai; MALAY: dòng Malaysia.
 
Bảng 2: Trọng lượng tôm thu hoạch (g) sau 12 tuần nuôi (n = 1.870)
 
Bảng 2 cho thấy phép lai tôm cái Malaysia với tôm đực dòng Đồng Nai cho kết quả tốt nhất, kết quả kém nhất là
phép lai tôm cái Malaysia với đực Malaysia.
 
Bảng 3: Kết quả so sánh tăng trưởng các dòng tôm trong các phép lai.
 
i/j          1         2         3         4         5         6         7         8         9
 
    1              1.0000    0.9951    0.9752    0.9886    0.9291    0.9972    0.9936    0.9858
    2    1.0000              0.9780    0.9373    0.9765    0.8411    0.9925    0.9836    0.9751
    3    0.9951    0.9780              0.9245    0.8831    0.5376    0.9996    0.9954    0.8784
    4    0.9752    0.9373    0.9245              0.8430    0.9963    0.9983    1.0000    0.8384
    5    0.9886    0.9765    0.8831    0.8430              0.6954    0.9703    0.9471    1.0000
    6    0.9291    0.8411    0.5376    0.9963    0.6954              0.7878    0.9538    0.6910
    7    0.9972    0.9925    0.9996    0.9983    0.9703    0.7878              0.9998    0.9683
    8   0.9936    0.9836    0.9954    1.0000    0.9471    0.9538    0.9998              0.9442
    9    0.9858    0.9751    0.8784    0.8384    1.0000    0.6910    0.9683    0.9442
 
Bảng 3 cho thấy, mặc dù có những sai khác nhất định về tăng trưởng giữa các dòng tôm, tuy nhiên sai khác này chưa đủ lớn về mặt thống kê (p > 0,05). Vì vậy có thể nói không tìm được ưu thế lai trong tất cả các phép lai. Điều này càng cho thấy cần phải tiến hành chọn giống nhằm cải thiện tăng trưởng của tôm càng xanh.
 
Bảng 4: Kết quả chọn lọc, hình thành đàn tôm bố mẹ cho chọn giống
 
 
 Đàn tôm bố mẹ được hình thành bao gồm 580 con tôm bố mẹ hiện diện ở 60/80 gia đình khác nhau có giá trị chọn giống (breeding value) của gia đình cao nhất. Đây là nguồn vật liệu ban đầu có giá trị cho các chương trình chọn giống tiếp theo.
Kết luận: Không có ưu thế lai trong các phép lai đạ thực hiện. Kết quả nghiên cứu đã hình thành được nguồn vật liệu ban đầu gồm 580 tôm bố mẹ cho chọn giống.
 
 
                                                                                                            Đinh Hùng
» Các tin khác :
Tìm kiếm

Web       RIA2
Liên kết website
Địa chỉ

Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2

Địa chỉ: 116 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, Tp.HCM

ĐT: (84-8) 38299592
      (84-8) 38230676

Fax: (84-8) 38226807

Email: ria2@mard.gov.vn

       ria2@hcm.fpt.vn

phim sex | phim cap 3 | phim 18+ | clip sex | phim tinh cam | phim kinh di | phim hai | phim hanh dong | phim hoat hinh | phim ma | phim sex việt nam | phim hay | v1vn | phim47 | phim | phim sex | phim cap 3 | | clip sex | phim 18+ | phim kinh di | phim tinh cam | phim hanh dong | phim vien tuong | phim bo han quoc| phim hai xxx